Ngôn Ngữ Kiến Trúc Hiện Đại Việt Nam
Trong dòng chảy của kiến trúc hiện đại, kiến trúc thường được nhìn như những hình khối vật chất, những mặt đứng, những bản vẽ kỹ thuật. Nhưng với Kiến trúc sư Phạm Phú Vinh, kiến trúc còn là một dạng ký ức, một hệ ngôn ngữ thẩm mỹ kể lại câu chuyện của con người và vùng đất. Là tác giả của cuốn sách Poetic Significance: Sài Gòn Mid-century Modernist Architecture, anh đã dành nhiều năm nghiên cứu và khảo sát để truy tìm những tầng nghĩa thẩm mỹ ẩn sau kiến trúc Sài Gòn thời kỳ hiện đại giữa thế kỷ XX. Công trình của anh không chỉ như một nhật ký nghiên cứu mà còn là nỗ lực giải mã cách kiến trúc Việt Nam biến chuyển, đồng thời gìn giữ những dấu ấn bản địa, từ khí hậu, văn hóa đến lối sống đô thị. Hôm nay, chúng tôi mời bạn cùng khám phá thế giới tư duy và nghiên cứu của Kiến trúc sư Phạm Phú Vinh một hành trình đi qua lịch sử, thẩm mỹ và bản sắc, để nhìn lại kiến trúc Việt Nam bằng một lăng kính vừa khoa học, vừa đầy chất thơ.
Khi giới thiệu bản thân anh sẽ nói điều gì về mình?
Mình là Vinh, mình học đại học kiến trúc Sài Gòn bắt đầu từ năm 2016, đó cũng là lần đầu tiên mình ở Sài Gòn. Trong quá trình học mình bắt đầu hứng thú với kiến trúc hiện đại miền nam Việt Nam theo một cách rất là chung. Chạy xe máy ở Sài Gòn là cách mà mình khám phá những các công trình, với rất nhiều thành phần kiến trúc sáng tạo như hoa gió, bồn cây, lam gió, v.v. Mỗi nhà đều tạo hình một cách riêng, nhưng đều có một bố cục chung làm cho mình nhận ra nhưng đều có một bố cục chung làm cho mình nhận ra những công trình này thuộc cùng một thể loại rất đặc biệt Sau đó khi mình xuất bản cuốn sách và theo học thạc sĩ tại Bordeaux, Pháp, mình tiếp tục nghiên cứu về kiến trúc hiện đại miền nam Việt Nam và các vấn đề xung quanh, đặc biệt là ngôn ngữ học kiến trúc. Cuốn sách đầu tiên cũng cho mình những ý tưởng mới. Ngoài tính thẩm mỹ thì kiến trúc nó còn có văn hoá, sự sáng tạo và những mối liên quan của những đặc tính đó. Hiện tại mình vẫn đang tiếp tục nghiên cứu những vấn đề liên quan đến kiến trúc hiện đại miền nam Việt Nam.
Vậy anh Vinh đã nghiên cứu Kiến trúc bản địa Việt Nam dưới góc nhìn ngôn ngữ kiến trúc như thế nào ạ?
Kiến trúc bản địa, trước hết, là kiến trúc cụ thể trong một bối cảnh trong thời gian và không gian nghĩa là nó được đặt trong một vị trí địa lý cụ thể với khí hậu nhất định, và trong một khoảng thời gian cụ thể. Có thể nói, kiến trúc bản địa là kiến trúc của cộng đồng, khi nó đại diện cho các hoạt động văn hóa, địa lý của một nhóm người.
Trong một bối cảnh nhất định, họ xây dựng theo một cách nhất định. Cách xây dựng đó được chắt lọc qua quá trình thử nghiệm lâu dài. Cộng đồng sẽ quyết định xây các cấu trúc với chức năng để ở hoặc phục vụ cho các hoạt động thương mại, nông nghiệp, v.v. Góc nhìn của mình về kiến trúc bản địa là như vậy nó là một dạng kiểu mẫu về cách thể hiện và xây dựng của kiến trúc. Các kiến trúc bản địa luôn dựa trên một dạng mẫu, một “dàn bài” đã được thử nghiệm qua nhiều thế hệ.
Ví dụ, khi mình muốn xây nhà mới, mình thấy ông bà mình xây như vậy thì mình cũng sẽ làm theo. Đó là cách văn hóa được tích lũy, thử nghiệm và ăn sâu trong cộng đồng. Bản mẫu đó, ngoài việc là di sản và là kết quả của quá trình chắt lọc qua ngôn ngữ, văn hóa, kỹ thuật…, còn là một dạng hệ thống sáng tác. Hệ thống này giống như các ngôn ngữ tự nhiên như tiếng Việt, tiếng Anh hay tiếng Pháp. Một điều mình nhận thấy là, trong kiến trúc hiện đại Việt Nam và cả kiến trúc “không hiện đại” (tức là kiến trúc phát triển trước giai đoạn công nghiệp hóa) ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, đều tồn tại một hệ thống sáng tác rất giống hệ thống ngôn ngữ tự nhiên. Mình quan sát thấy có một hệ thống “ngữ pháp” và “từ vựng”.
Cách mà người bản địa sáng tác nhà ở cũng giống như cách họ nói chuyện với một vốn từ vựng và một hệ ngữ pháp đã được chắt lọc trong nhân sinh quan của cá nhân trong cộng đồng đó. Họ sáng tác một cách nhẹ nhàng, mang tính ngẫu hứng. Nhưng khi công trình hoàn thiện, kiến trúc bản địa lại rất phức tạp, không hề đơn giản. Khi liên hệ với ngôn ngữ tự nhiên, chúng ta cũng sử dụng từ ngữ rất đơn giản và thường không để ý đến cấu trúc câu. Nhưng thực ra, lời nói lại rất phức tạp về mặt cấu trúc ví dụ như mối quan hệ giữa chủ ngữ và động từ, hay các liên kết trong một câu. Thực chất, đây là một hoạt động “bố cục” rất phức tạp, nhưng lại được thực hiện một cách tự nhiên. Đó chính là một đặc điểm quan trọng của kiến trúc bản địa nói chung và kiến trúc hiện đại bản địa Việt Nam nói riêng.

Anh có thể nói thêm về đặc tính hay biểu hiện của kiến trúc bản địa Việt Nam không ạ?
Mình không nghiên cứu về kiến trúc bản địa Việt Nam, mình nghiên cứu về kiến trúc hiện đại bản địa. Thuật ngữ này hơi gây mâu thuẫn. Nhưng mình nghĩ kiến trúc hiện đại Việt Nam đã trở thành một loại kiến trúc bản địa. Ví dụ như khi nói về chủ nghĩa hiện đại, người ta sẽ nói về kiến trúc hiện đại bắt đầu ở châu Âu, ở những nước công nghiệp. Sau thế chiến thứ nhất rồi đến thế chiến thứ 2, con người có tâm lý muốn thoát ra khỏi thế giới cũ để đến với thế giới mới và họ phát triển, ứng dụng các vật liệu công nghiệp, vốn là những thành tựu của khoa học kỹ thuật mới như thép, kính, bê tông,… Đây là những vật liệu mới với những khả năng mới so với vật liệu truyền thống.
Những kiến trúc sư theo chủ nghĩa hiện đại cổ xúy cho tư tưởng rằng một hệ thống công nghiệp mới, một hệ thống xã hội mới phải thể hiện qua kiến trúc. Từ đó chúng ta có chủ nghĩa hiện đại, khi kiến trúc hướng tới một thế giới mới với vật liệu mới và chối bỏ những trang trí rườm rà. Họ cho rằng cấu trúc của công trình chính là giá trị của công trình. Vật liệu hiện đại có trước chủ nghĩa hiện đại nhưng khi đó người ta thiết kế chưa theo chủ nghĩa hiện đại. Ví dụ như Art Deco đã bắt đầu sử dụng vật liệu hiện đại hay trước đó như Neoclassical Architecture (tân cổ điển) thì nhiều công trình đã sử dụng bê tông, kính, thép, v.v. nhưng ngôn ngữ thì chưa phải là ngôn ngữ hiện đại.
Những kiến trúc sư theo chủ nghĩa hiện đại là những kiến trúc sư thiết kế theo ngôn ngữ hiện đại. Chủ nghĩa hiện đại bắt nguồn ở châu Âu. Khi chủ nghĩa hiện đại xuất hiện ở những nước đang phát triển, ở những nước đã trải qua chiến tranh như ở Việt Nam chẳng hạn, nó là một dạng công cụ để tìm kiếm những tính cách mới, những biểu hiện mới, cũng như các kiến trúc sư ở châu Âu sau chiến tranh thế giới. Việt Nam, hay Cambodia hay Brazil, v.v. đều như vậy.

Nó gọi là Regionalism (Chủ nghĩa vùng miền) khi mà những quốc gia này thoát khỏi thuộc địa và lấy lại độc lập, muốn thể hiện đặc trưng văn hóa trong thời hiện đại bằng vật liệu hiện đại, nhưng có những điểm chấm xuyết của văn hóa bản địa. Ví dụ như ở Sài Gòn thì có Thư viện Khoa học Tổng hợp, hay Dinh Độc Lập. Đó là một nhánh của chủ nghĩa hiện đại Việt Nam, là một nhánh của một phong trào lớn trên thế giới, phong trào kiến trúc hiện đại và cụ thể hơn là phong trào của những nước mà vừa giành lại độc lập sau thuộc địa.
Đây là một nhánh rất thú vị, là một nhánh đã thử nghiệm và phát triển lên kiến trúc vật liệu công nghiệp nhưng không theo ngôn ngữ hiện đại thế giới mà theo một ngôn ngữ hiện đại Việt Nam, một phần là qua những điểm chấm xuyết văn hóa như mình vừa nói, và một phần là qua thích nghi với khí hậu nhiệt đới với các thành phần thông gió, che nắng, che mưa… Đây là một phần rất quan trọng. Nhưng một điểm ít được để ý, đó là ngoài cái nhánh tạm gọi là nhánh chính thống do các kiến trúc sư thiết kế thì còn có một nhánh khác của chủ nghĩa hiện đại Việt Nam đã ăn nhập vào trong ngôn ngữ kiến trúc bản địa, tức là kiến trúc của quần chúng. Mình thấy rằng khi mọi người khi xây nhà thì phần lớn họ sẽ xây một công trình theo ngôn ngữ hiện đại với vật liệu công nghiệp, các thành phần kiến trúc trừu tượng và không có trang trí kiến trúc rườm rà.
Tùy nơi thì điều này có thể không đúng, nhưng nhìn chung, đây là các thành phần công năng trừu tượng. Lý do nó trở thành bản địa là vì nó không có thiết kế theo một cái dạng “ý chí” của kiến trúc sư, mà nó thiết kế theo dạng ngôn ngữ, với một bản mẫu. Như khi mình nói về kiến trúc bản địa, đã có một bản mẫu. Ví dụ như tổ chức nhà phố với ban công, lô-gia, hoa gió, sân thượng, giếng trời… Đã có một tổ chức chung và mọi người áp dụng nó một cách tự nhiên và mang dấu ấn của họ. Chính vì lý do đó mà đây là sự thể hiện của một hoạt động bản địa bằng một ngôn ngữ kiến trúc mới. Đây là lý do mà mình quan tâm tới kiến trúc hiện đại bản địa.”
Để giải nghĩa cho hai chữ “Hiện đại” thì William Paling nhà nghiên cứu về đô thị học, trong một nghiên cứu viết năm 2012 viết về “Biến đổi, hiện đại và vị thế” đã tập trung nghiên cứu về thành phố Phnom Penh và ông đưa ra các khái niệm về việc kiến trúc và quy hoạch được dùng như một công cụ khẳng định vị thế, ông nhận định rằng các công dân Châu Á ở đó coi hiện đại là “sự hưởng ứng mạnh mẽ với những điều mới mẻ, với công nghệ hiện đại, thậm chí là sự thống trị của loài người đối với thiên nhiên và những thay đổi nhanh chóng”, có thể thấy hiện đại không chỉ là một phong cách, vậy với anh tính hiện đại còn bao hàm những điều gì?
Đối với mình với tư cách là một kiến trúc sư thì mình nghĩ kiến trúc chỉ nên quan tâm đến kiến trúc và cách sáng tác, quan tâm đến bối cảnh và quan tâm đến ngôn ngữ. Ví dụ như nãy mình nói thì kiến trúc tại các nước hậu thuộc địa muốn khẳng định hình ảnh hiện đại của nước đó. Phnom Penh cũng là một trường hợp tương tự với Van Molyvann và ở Việt Nam thì có kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, v.v… Đó là sự thể hiện của một ý chí dân tộc của một thời đại.
Nó thể hiện qua những dự án mà từ trong bản chất đã có ý chí đó rồi. Nhưng mình nghĩ rằng đó chỉ là một phần của một dự án kiến trúc. Giống như một miếng đất, ở nơi này hay ở nơi kia, bối cảnh là đầu vào. Mình nghĩ rằng người thiết kế thể hiện qua cách họ lấy những đầu vào đó và chuyển thành một công trình. Nghĩa là họ cấu tạo nên một công trình mới qua một quá trình như thế nào? Chủ nghĩa hiện đại là như vậy, là một quá trình, một hệ thống sáng tác. Thay vì như trước chủ nghĩa hiện đại, kiến trúc dựa trên những hình mẫu cụ thể, cứng nhắc như là tỉ lệ phải đối xứng, được trang trí bằng những hình ảnh mang tính tôn giáo, tâm linh, v.v. thì kiến trúc hiện đại là kiến trúc của các thành phần.
Những khái niệm như program (tổ chức công năng) với bao nhiêu phòng, bao nhiêu diện tích, giao thông như thế nào, v.v. là những khái niệm của chủ nghĩa hiện đại. Kiến trúc hiện đại coi một công trình như một cái máy, là tổng hợp của những thành phần hoạt động với nhau, giống như một đồng hồ cơ với nhiều mắt xích hợp tác với nhau, ví dụ như các phòng, mặt đứng, giao thông đi lại phía trong, giao thông ngang, giao thông dọc, v.v. Thì đó là một hệ thống sáng tác khác với các hệ thống trước. Chủ nghĩa hiện đại là một hệ thống rất tự do, công trình không phải tuân theo một hình dáng bắt buộc, không cần phải đối xứng, không cần phải trang trí. Nó tự phát triển ra từ cái đề bài, từ cái bối cảnh và từ cái người kiến trúc sư.

Lớp nghĩa biểu tượng
Trong phân cảnh của bộ phim Columbus (2017), Jin và Casey đứng trong phòng khách của Miller House với không gian mở, trần cao, tường kính nhìn ra vườn, với lớp nghĩa biểu tượng ấy, được nhiều kiến trúc sư áp dụng và xem đó là thiết kế hiện đại. Nhưng với kiến trúc miền Nam Việt Nam, đặc biệt là chung cư số 12 đại lộ Võ Văn Kiệt, ta thấy rõ sự ảnh hưởng của kiến trúc sư người Pháp gốc Thụy Sĩ Le Corbusier trong nền kiến trúc hiện đại Việt Nam qua việc kết cấu mặt tiền tòa nhà tương tự công trình Unite d’Habitation tại Pháp. Mặc dù tương tự về kết cấu, nhưng kiến trúc sư Nguyễn Văn Hoa đã đưa ra một giải pháp thiết kế thanh thoát hơn và phù hợp với khí hậu Việt Nam thông qua việc ứng dụng các cấu kiện mảnh hơn, khiến cho bố cục tổng thể thanh thoát hơn. Người Việt Nam nhìn thấy những ý tưởng hay và tái thiết, biến chúng thành bản sắc riêng theo phong tục và lịch sử của địa phương. Họ không sao chép lại ý tưởng mà chuyển hóa chúng thành bản sắc Việt Nam. Thế thì khi các kiến trúc sư phân tích về nó và suy nghĩ về nó thì theo anh điều gì đã tạo ra dấu ấn Việt trong những thiết kế thời ký đó?
Mình không nghĩ rằng, trong trường hợp của chung cư Võ Văn Kiệt, có một sự áp dụng lại Le Corbusier. Mình có thể hiểu rằng có sự giống nhau trong cái nhịp của mặt đứng, nhưng nhịp của mặt đứng có khắp nơi trong kiến trúc hiện đại. Ngoài ra, Le Corbusier thiết kế bê tông trần – chủ nghĩa thô mộc. Nhưng ở Việt Nam, thời điểm đó không có chủ nghĩa thô mộc vì họ bảo vệ bê tông bằng xi măng, đá rửa để bảo vệ khỏi độ ẩm, mưa.
Mình không nghĩ kiến trúc hiện đại Việt Nam ảnh hưởng từ Le Corbusier vì có rất nhiều kiến trúc sư hiện đại trên thế giới họ có ảnh hưởng như là Mies van der Rohe, Frank Lloyd Wright, v.v. Le Corbusier có đóng góp trong việc ông viết quyển The Modular về hệ thống Modular (hệ thống tỷ lệ vàng), rất là tiện cho việc thiết kế. Phong trào Bauhaus cũng vậy, hoặc là Neufert, với quyển Neufert mà sinh viên kiến trúc nào cũng phải đọc. Có rất nhiều ngôn ngữ khác nhau, trong đó có thể nói Le Corbusier là người nổi tiếng nhất. Vì vậy, mình nghĩ cần phải rõ ràng khi nói kiến trúc hiện đại Việt Nam chịu ảnh hưởng của Le Corbusier hay một kiến trúc sư nào khác, vì đây là những giả thuyết khó xác nhận.
Còn về chuyện điều gì làm cho kiến trúc hiện đại Việt Nam mang bản sắc riêng thì mình nghĩ nó là điều tự nhiên. Thứ nhất, nó ở trong khí hậu Việt Nam, khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều. Để bảo vệ công trình và người ở trong công trình, phải cần những biện pháp thiết kế khác. Ví dụ như phải có mái vươn để che mưa, che nắng; trên mặt đứng, phải có lam gió để thông gió, tránh ẩm, mất vệ sinh. Riêng những biện pháp thiết kế đó thì nó đã tạo ra những ngôn ngữ thiết kế rất khác rồi. Ở châu Âu thì có mùa đông và mùa hè. Vào mùa đông lạnh, công trình phải kín khí.

Còn ở Việt Nam thì phải thoáng khí để tránh ẩm mốc. Riêng điều đó đã tạo ra một cái mặt đứng rất có chiều sâu. Chiều sâu theo nghĩa hơi mỹ thuật, tức là giữa lớp hoàn toàn ngoài trời và lớp hoàn toàn trong nhà, “vỏ” của một căn nhà trong kiến trúc hiện đại Việt Nam có rất nhiều lớp. Ngoài cái tường sẽ có một lớp ban công hay một lớp tường hoa gió, và ngoài lớp đó là một lớp mái che. Khái niệm “vỏ” là một khái niệm rất rộng của nhiều thành phần.
Khoảng cách từ điểm hoàn toàn ngoài trời và điểm hoàn toàn bên trong nhà rất xa nhau, rất khác so với so với kiến trúc khí hậu ôn đới. Riêng việc thông gió và che nắng đã tạo ra rất nhiều lớp kiến trúc khác nhau, thành phần khác nhau. Điều đó tạo ra chiều sâu trong mặt đứng khi nhìn từ bên ngoài vào. Đặc biệt là khi có nắng thì bóng đổ của các thành phần đổ lên nhau, lẫn qua lẫn lại. Và khi mình nhìn vào công trình kiến trúc hiện đại Việt Nam, một công trình gần như biến mất dần vào bên trong.
Còn kiến trúc hiện đại ôn đới thì tạm gọi là “cục kịch” hơn. Việc này đã có từ lâu. Kiến trúc cổ truyền của Việt Nam như chùa, đình cũng có những lớp bóng sâu và nó biến mất dần trong công trình. Đó là vấn đề “thực dụng”. Ngoài ra thì còn cả những vấn đề gu, vấn đề thẩm mỹ. Một quan sát của mình là kiến trúc hiện đại Việt Nam rất đặc về mặt nhịp điệu và có độ tương phản cao. Vấn đề gu thẩm mỹ tùy thuộc vào mỗi người nhưng cũng có một phần dấu ấn từ văn hóa chung. Đó là một phần trong các yếu tố làm cho kiến trúc Việt Nam mang dấu ấn riêng.
Đó là nhánh chính thống. Nhưng nhánh bản địa lại càng mang dấu ấn Việt hơn nữa. Mình nghĩ kiến trúc sư cũng có thể đã thiết kế một số nhà phố.
Nhưng với lượng nhà phố hiện đại lớn như vậy giữa thế kỷ 20, khó có thể nói rằng những ngôi nhà đó được thiết kế bởi kiến trúc sư. Một giả thuyết là chủ nhà thuê nhà thầu và muốn nhà của mình phải thế này hay thế kia. Đây là một hoạt động sáng tác mang tính ngẫu hứng và tự nhiên, nhưng lại mang dấu ấn nhưng là sự thể hiện chân thật của mỗi cá nhân và của cộng đồng.. Việc này càng làm cho những công trình này mang tính bản địa hơn về mặt thẩm mỹ vì không cần phải qua tất cả các quá trình kiểm duyệt của kiến trúc chính thống.
Trong cuốn sách Poetic Significance: Sài Gòn Mid-century Modernist Architecture anh có trình bày đây là một tài liệu ghi chép các công trình và một sự phân loại hoá các đặc điểm nhận dạng. Vậy với anh có thể giải thích rõ hơn về những đặc trưng mỹ cảm của các công trình hiện đại ở Sài Gòn từ những năm 1950 đến những năm 1970?
Thời điểm mình viết cuốn sách, giai đoạn 2020 – 2021, thì cộng đồng có nhận thức về kiến trúc hiện đại Việt Nam rất hiếm và mình kiếm tài liệu thì không có. Gần như là không ai quan tâm. Có nhóm Vietnamese Modernist Architecture trên Facebook thỉnh thoảng đăng hình các công trình, nhưng nhìn chung rất hiếm. Mình muốn tổng hợp những gì mình biết lại, hệ thống hóa bằng cách quan sát và ghi chép. Mặc dù thời điểm đó mình chưa biết rõ đây là cái gì.
Mình chỉ biết nó là một cái gì đó khác thôi. Cách tiếp cận của mình hồi đó là như vậy, cố gắng tìm ra các đặc điểm phân biệt. Một trong những đặc điểm chủ yếu là vấn đề che nắng, che mưa, hệ thống hoa gió, tường đôi… đó là những đặc trưng của kiến trúc nhiệt đới nói chung và kiến trúc Việt Nam nói riêng. Những đặc điểm này đã có trong kiến trúc truyền thống rồi, nhưng bây giờ được thể hiện một cách khác.

Sau đó mình bắt đầu có những góc nhìn mang tính mỹ cảm hơn. Mình phân tích các điểm nhấn xuyết khi mà người ta sáng tác. Những điểm nhấn xuyết đó là gì? Đây là một vấn đề chủ quan. Một trong những điểm nhấn xuyết mà mình thấy là trong cách họ chơi với kết cấu. Ví dụ như dầm console luôn thò ra một chút trên mặt đứng, hay là hai đầu dầm dọc kề nhau, hay pergola với dầm che nắng, mỗi dầm dày 5 – 10 cm, cách nhau khoảng chỉ 5, 10, 20 cm, rất đặc. Đây là những dạng điểm nhấn. Mình gọi đó là “điểm nhấn bất thường”. Gần như một bức tranh, ngoài những thành phần bắt buộc có chức năng thực sự, thì có những điểm nhấn được tạo ra bằng những thành phần vốn có công năng nhưng giờ trở thành điểm nhấn, được đặt để để hoàn thành bố cục theo ý của người sáng tác.
Đó là một hoạt động rất đặc biệt trong kiến trúc hiện đại vì kiến trúc hiện đại vốn không tha thứ cho trang trí. Nếu trang trí thì nó không phải là kiến trúc hiện đại. Nhưng chính sự khác nhau đó là điều làm cho kiến trúc hiện đại Việt Nam là một kiến trúc bản địa vì nó là một hoạt động bản địa, một hoạt động quần chúng. Khi quyết định xây nhà, họ sẽ xây như thế với hành vi thiết kế như thế. Đó là các điểm bất thường (anomaly) trong bố cục.
Một hành vi rất đặc biệt nữa là trừu tượng hóa. Trong kiến trúc hiện đại thế giới có những thành phần architectonic, chơi với các trò chơi hình học để tạo ra các thành phần kiến trúc trừu tượng khi vẫn giữ được chức năng của thành phần đó. Việc này xảy ra rất nhiều ở Việt Nam. Các bồn cây trên mặt đứng nhà phố, đặt trên dầm console có rất nhiều cách tạo hình khác nhau: hình vuông, hình dọc, hình thang, các lam che nắng trên toàn mặt đứng, hoặc hoa gió với rất nhiều cách trừu tượng hóa. Thậm chí rãnh kẻ ngăn nứt trên đá rửa cũng trở thành một trò chơi hình học.
Ở Sài Gòn thì khá là chắt lọc, còn càng đi về vùng quê thì sự trang trí càng đặc biệt hơn với sự thể hiện cá nhân càng nhiều hơn. Kiến trúc hiện đại bản địa là một khái niệm dễ gây tranh cãi. Nhưng đây là một nhận thức mới và một vấn đề mở cần được đào sâu. Mình không nghĩ kiến trúc cũ mới là kiến trúc bản địa, kiến trúc mới cũng có thể là kiến trúc bản địa. Mình coi từ “bản địa” là một tính chất hơn là một dạng phân loại. Tính chất đó, ở đây, là trong cách tiếp cận của cá nhân trong cộng đồng và của cộng đồng đó với kiến trúc. Mình thấy kiến trúc nhà phố, nhà vườn giữa thế kỷ XX ở Việt Nam xây bằng gạch, bê tông, kính, thép là những vật liệu công nghiệp và các thiết kế trừu tượng.
Vì vậy đây là kiến trúc hiện đại. Chúng lại được thực hành một cách rất bản địa, với những hành vi rất tự nhiên của chính người dân. Vì vậy, đây cũng là kiến trúc bản địa. Điều này đúng theo hai chiều: kiến trúc hiện đại bản địa hay kiến trúc bản địa hiện đại. Bây giờ mình đang tập trung suy nghĩ về những đặc điểm ngôn ngữ trong kiến trúc bản địa hiện đại Việt Nam nói riêng và kiến trúc nói chung. Những đặc điểm này rất giống, nếu không nói là y hệt so với ngôn ngữ tự nhiên.
Mặc dù mỗi câu nói đều có cấu trúc với chủ ngữ, vị ngữ, nhưng mỗi người sẽ nói một cách khác nhau. Ví dụ như Vương và Vinh đều nói tiếng Việt, nhưng tiếng Việt của Vương và Vinh sẽ khác nhau về cách xây dựng câu, cách chọn từ. Tức là cùng trên một cấu trúc chung nhưng mỗi người sẽ thể hiện một cách khác nhau. Những tính chất đó đều có trong kiến trúc hiện đại. Ngay cả thẩm mỹ cũng có thể xem là một dạng “giọng vùng miền” trong kiến trúc.
Mình thấy điều đó rất thú vị. Tại sao nó lại có thể giống nhau như vậy? Ngôn ngữ là gì? Và giới hạn của ngôn ngữ ở đâu? Đây là một luận điểm mà mình đang nghiên cứu: coi kiến trúc như là một dạng ngôn ngữ, và khả năng ngôn ngữ bao hàm nhiều hơn là các ngôn ngữ tự nhiên. Ví dụ như Vương và mình đang nói tiếng Việt, nhưng mình cũng có thể nói bằng một thứ tiếng khác nếu như mình sinh ra ở một trường ngôn ngữ khác. Điều đó chứng minh rằng khả năng ngôn ngữ là một khả năng sâu hơn cả một ngôn ngữ tự nhiên cụ thể, và ngôn ngữ tự nhiên chỉ là bề nổi của một khả năng sáng tạo sâu hơn.
Một khi xác định như vậy, nó mở đường cho khả năng rằng một ngôn ngữ bề nổi này có thể được thay thế bằng một ngôn ngữ bề nổi khác mà cùng vận động dựa trên khả năng ngôn ngữ sâu của mỗi con người. Một luận điểm mà mình muốn phát triển đó là kiến trúc là một dạng ngôn ngữ bề nổi, như tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp, v.v., và có hệ thống ngữ pháp, cú pháp và từ vựng. Nếu một người có thể học tiếng Việt hay tiếng Anh, v.v. họ cũng có thể học một thứ “tiếng kiến trúc”.
Chính vì vậy cho nên người dân học được thứ ngôn ngữ kiến trúc đó như khi mình học tiếng Việt khi còn bé. Và khi học được thứ ngôn ngữ đó thì họ thực hành thứ ngôn ngữ đó một cách tự nhiên. Mình đoán là chính bởi vì như vậy cho nên có những sự trùng hợp, những sự giống nhau trong các hành vi sáng tạo, ví dụ như viết lách hay nói là những hành vi sáng tạo khác. Những đặc điểm như mình nêu ở trên như ngữ pháp chung, đặc trưng cá nhân, như giọng vùng miền, hay khái niệm điểm nhấn xuyết là những khái niệm có thể áp dụng cho ngôn ngữ tự nhiên và cũng như là ngôn ngữ kiến trúc. Đó là một trong những điểm mà mình đang khám phá.

— trò chuyện về ngôn ngữ học —
Mình nghĩ kiến trúc hiện đại Việt Nam và đặc biệt kiến trúc hiện đại bản địa Việt Nam là một di sản mà trước giờ ít được nghĩ tới. Ví dụ như ở Việt Nam, khi mình nghĩ tới di sản, mình sẽ nghĩ ngay tới các công trình truyền thống hay kiến trúc thuộc địa. Và khái niệm di sản hiện đại gần như không tồn tại, trong khi kiến trúc hiện đại Việt Nam có vai trò lịch sử rất quan trọng. Đó là thời điểm đầu của nước Việt Nam hiện đại, độc lập. Đó là một di sản. Nhánh chính thống của kiến trúc hiện đại Việt Nam thì tất nhiên phải bảo tồn.
Nhưng hiện tại, những công trình được bảo tồn chỉ vì vai trò lịch sử như Dinh Độc Lập, và không vì đó là một công trình kiến trúc hiện đại xuất sắc, cùng với nhiều công trình khác. Chúng ta chưa thấy một công trình kiến trúc hiện đại được bảo vệ bởi vì đó là một công trình kiến trúc hiện đại. Về mặt học thuật, kiến trúc hiện đại bản địa Việt Nam là một hiện tượng đặc biệt trên thế giới khi mà chưa có một nhánh kiến trúc hiện đại nào mang tính bản địa như ở Việt Nam, được thực hành một cách dày đặc khắp cả nước, vô cùng sáng tạo.
Nếu nói về bản sắc, thì đây là một trong những tiềm năng để hiểu về khái niệm này, vì nó được tạo ra bởi một cộng đồng cụ thể, trong một bối cảnh cụ thể, với một ngôn ngữ hoàn toàn mới nhưng đã được thuần hóa ngay lập tức. Mình cho rằng điều này làm nên giá trị đặc biệt của kiến trúc hiện đại Việt Nam và nhánh kiến trúc hiện đại bản địa Việt Nam.
Lời kết
Và để kết lại buổi trò chuyện lần này tôi xin gửi để các bạn một câu hỏi để chúng ta cùng suy ngẫm cho vui. Sẽ ra sao nếu những công trình kiến trúc truyền cảm hứng cho chúng ta bị đập bỏ, và nếu ta có một loại tài năng để chỉnh sửa chúng, khiến chúng thích nghi và điều chỉnh với những bối cảnh xã hội mới thì chúng ta sẽ làm gì với chúng?. xin cảm ơn các bạn đã tập trung đọc hết bài viết.
