Nếu những con đường của Sài Gòn bộc lộ một sự tự tin của kiến trúc hiện đại miền Nam Việt Nam, thì câu chuyện không dừng lại ở đó. Ẩn sau những công trình ấy là một chuyển dịch sâu sắc hơn trong cách các kiến trúc sư tư duy, học hỏi và phản hồi với thời đại của mình. Sau cùng, kiến trúc chưa bao giờ chỉ là hình thức nó luôn được định hình bởi bối cảnh xã hội mà nó thuộc về.

Trong cuộc trò chuyện với ông Mel Schenck, chương sách này rời khỏi những con phố để nhìn vào bức tranh tư tưởng bao quanh thực hành kiến trúc hôm nay. Từ những chuyển biến lịch sử đến Kỷ nguyên Thông tin, nội dung đào sâu cách tư duy thay đổi như thế nào và vì sao việc nhìn kiến trúc như một chỉnh thể, thay vì tập hợp các mảnh rời rạc, lại trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Điều gì ở các kiến trúc sư trẻ Việt Nam hôm nay khiến ông cảm thấy đặc biệt và nuôi dưỡng niềm tin của ông vào tương lai của kiến trúc chỉnh thể?

Tôi rất quan tâm đến các kiến trúc sư trẻ ngày nay. Có một điều tôi chưa nhắc đến trước đó là trong 10 năm, tôi đã giảng dạy và dẫn dắt các lớp seminar cho Quỹ Huỳnh Tấn Phát và đó thực sự là một trải nghiệm tôi vô cùng trân trọng.
Mỗi lớp thường có khoảng 12–15 sinh viên mỗi học kỳ. Các bạn đều phải vượt qua một bài kiểm tra để đảm bảo có trình độ tiếng Anh ở mức trung bình trở lên. Sau đó, sinh viên tự chọn chủ đề, tiến hành nghiên cứu, và chuẩn bị bài thuyết trình PowerPoint.
Trong mỗi buổi học, sẽ có một hoặc hai sinh viên trình bày hoàn toàn bằng tiếng Anh, sau đó trả lời câu hỏi cũng bằng tiếng Anh. Việc trả lời câu hỏi bằng một ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ đòi hỏi rất nhiều nỗ lực và tôi hiểu điều đó hơn ai hết.
Bên cạnh đó, mỗi học kỳ tôi cũng thực hiện hai bài giảng chính, một về kiến trúc hiện đại (modernist architecture) và một về kiến trúc chỉnh thể (holis tic architecture).

Trải nghiệm giảng dạy này vô cùng quan trọng với tôi, bởi tôi thực sự yêu thích việc dạy học. Từ rất sớm, tôi đã quyết định không theo con đường học thuật, không phải vì tôi không yêu tri thức, mà bởi tôi muốn hành nghề kiến trúc điều mà tôi đã mơ ước từ khi mới 10 tuổi.
Việc đồng hành cùng Quỹ Huỳnh Tấn Phát cho tôi một cơ hội rất hiếm khi được giảng dạy, nhưng vẫn gắn bó với thực hành kiến trúc.
Tôi yêu việc làm việc với sinh viên. Bất cứ khi nào một sinh viên muốn gặp tôi để trao đổi về bất kỳ điều gì, tôi luôn sẵn sàng. Những cuộc trò chuyện ấy lúc nào cũng thú vị, bởi không chỉ các bạn học từ tôi mà tôi cũng học được rất nhiều từ chính sinh viên.

Ông nhìn nhận thế nào về nghiên cứu khoa học của sinh viên kiến trúc hiện nay? Ông có lời khuyên gì cho các bạn trẻ theo đuổi con đường học thuật?

Câu hỏi đầu tiên của tôi luôn là: Tại sao? Bởi vì, về bản chất, kiến trúc không phải là khoa học.
Từng có một giai đoạn vào những năm 1970 và 1980, một số kiến trúc sư và giáo sư tin rằng kiến trúc nên trở nên “khoa học hóa” hơn. Họ thậm chí còn thành lập một nhóm gọi là Nhóm Phương pháp Khoa học trong Kiến trúc (Scientific Methods Group for Architecture). Nhưng thực tế là nỗ lực đó đã không thành công.

Tất nhiên, kiến trúc sư cần hiểu biết về vật lý và hóa học ở một mức độ nhất định, đặc biệt là vật lý. Chúng ta cần nắm được tĩnh học, động lực học, và hiểu công việc của các kỹ sư kết cấu, điện, cơ điện. Giáo dục kiến trúc vốn rất rộng, và sinh viên được trang bị khá nhiều kiến thức kỹ thuật trong trường.

Nhưng môn học quan trọng nhất trong trường kiến trúc vẫn là thiết kế. Đó cũng chính là điều mà đa số sinh viên mong muốn trở thành người thiết kế. Và cần hiểu rõ rằng thiết kế không chỉ là một sản phẩm, mà là một quá trình.
Thực tế là, phần lớn kiến trúc sư không trở thành “designer” theo nghĩa trực tiếp. Cá nhân tôi có thế mạnh về quản lý, vì vậy tôi đã trở thành người quản trị tiến trình thiết kế xuyên suốt sự nghiệp của mình. Dẫu vậy, tôi vẫn có khả năng thiết kế và gây ảnh hưởng đến các quyết định thiết kế.

Kiến thức khoa học của tôi là đủ dùng cho công việc tôi làm và thực ra cũng đủ cho hầu hết các công trình kiến trúc ngày nay. Nếu một kiến trúc sư tham gia vào những dự án có tính kỹ thuật rất cao, chẳng hạn như trung tâm dữ liệu tiên tiến, thì luôn có các chuyên gia tư vấn hỗ trợ.

Vì thế, khi tôi thấy giảng viên nhấn mạnh khoa học quá mức trong đào tạo kiến trúc, tôi thực sự lo ngại. Điều đó đã không hiệu quả trong quá khứ, và sẽ không hiệu quả trong hiện tại.
Kiến trúc là kiến trúc. Nhiệm vụ của chúng ta là trở thành những kiến trúc sư giỏi, chứ không phải những nhà khoa học bất đắc dĩ.
Khi tôi nói về khoa học trong cuốn sách mới của mình, tôi không nói về khoa học theo nghĩa kỹ thuật, mà nói về khoa học như một thế giới quan cách tư duy khoa học đã định hình Kỷ nguyên Thông tin như thế nào. Khoa học đã thay đổi cách chúng ta hiểu thực tại, và cách chúng ta nhìn thế giới như một chỉnh thể, thay vì tập hợp những mảnh rời rạc.

Trong Kỷ nguyên Thông tin, động lực trí tuệ thúc đẩy mọi lĩnh vực phải xem xét các hệ thống và tính chỉnh thể thay vì những thành phần tách biệt. Tôi nghiên cứu các tài liệu khoa học và triết học để thấu hiểu cách chúng ta tiến tới điểm chạm này. Với tôi, việc học những điều mới là tối quan trọng. Chừng nào tôi còn học, tôi còn cảm thấy mình đang sống. Tôi vẫn rất thích được nói chuyện và thuyết trình cho sinh viên tại các trường đại học và các quỹ học thuật. Nếu một ngày nào đó bạn muốn tôi chia sẻ về kiến trúc chỉnh thể tại Quỹ Huỳnh Tấn Phát, tôi sẽ rất sẵn lòng.

Theo ông, đâu là những tài liệu thực sự có giá trị cho sinh viên kiến trúc ngày nay? Giữa vô vàn tư liệu về kiến trúc hiện có, đâu là một “tài liệu tốt”?

Có quá nhiều tài liệu để liệt kê. Tôi có cả một kệ sách đầy ắp chúng ngay tại đây. Nhưng tôi nghĩ điều quan trọng nhất đối với kiến trúc sư trẻ và có lẽ hiện nay các bạn chưa thực sự được học điều này là phải hiểu bối cảnh mà xã hội đang vận hành.
Dù bạn sống ở Mỹ hay ở Việt Nam, chúng ta luôn hành nghề trong một bối cảnh nhất định. Và bối cảnh hiện nay của thế giới chính là Kỷ nguyên Thông tin (Information Age).

Vì vậy, điều quan trọng không chỉ là đọc sách kiến trúc, mà là tìm những tài liệu giúp bạn hiểu được Kỷ nguyên Thông tin là gì, nó đến từ đâu, và nó đang chi phối tư duy của chúng ta như thế nào. Cuốn sách có ảnh hưởng lớn nhất đến tôi về mặt này mang tên The Third Wave của Alvin Toffler người cũng là tác giả của cuốn Future Shock. The Third Wave giải thích rằng lịch sử nhân loại có thể được hiểu thông qua ba kỷ nguyên lớn.

Thời tiền sử, con người chưa ghi chép lại lịch sử. Lịch sử chỉ thực sự bắt đầu khi con người ghi lại tư tưởng, hoặc ít nhất là truyền miệng chúng.
Kỷ nguyên đầu tiên, chiếm hơn một nửa chiều dài lịch sử được ghi lại, là Kỷ nguyên Nông nghiệp. Thời kỳ này xoay quanh chủ nghĩa tuyệt đối, và hầu hết các xã hội đều mang tính phong kiến. Có vua chúa, có các Pharaoh. Chính quyền không phải là nền dân chủ. Tôn giáo trở thành công cụ quản lý xã hội của Kỷ nguyên Nông nghiệp.
Dù là tôn giáo nào, ở Việt Nam hay trên thế giới, đặc biệt là ở châu Âu với Kitô giáo, tôn giáo giữ vai trò thống trị. Các lãnh đạo tôn giáo, ở mức độ rất lớn, định hình xã hội họ đưa ra chuẩn mực đạo đức, luật lệ, Mười Điều Răn, và các nguyên tắc sống.

Kỷ nguyên Nông nghiệp có một lực trí tuệ rất rõ ràng “tuyệt đối – luật lệ – đức tin”
Khi nhìn vào kiến trúc của giai đoạn này, bạn sẽ thấy điều đó hiện lên rất rõ. Kiến trúc cổ điển mà chúng ta học phần lớn là kiến trúc tôn giáo đền thờ Hy Lạp, đền thờ La Mã, cùng một số công trình công quyền. Các nhà thờ Gothic khắp châu Âu đều là công trình tôn giáo. Nói cách khác, tôn giáo chính là lực trí tuệ của Kỷ nguyên Nông nghiệp, và kiến trúc là biểu hiện vật chất của lực đó.

Rồi Kỷ nguyên Công nghiệp xuất hiện và làm đảo lộn tất cả.
Trong Kỷ nguyên Nông nghiệp, con người tin thông qua tôn giáo rằng Mặt Trời quay quanh Trái Đất, với Chúa ở trung tâm. Mặt Trời, Mặt Trăng và các hành tinh được cho là vận hành nhờ quyền năng của Thượng đế. Mọi người đều tin như vậy. Đó là bối cảnh sống của họ.
Nhưng khoảng năm 1600, cùng với Thời kỳ Phục Hưng và sau đó là Khai sáng, các nhà khoa học phát hiện rằng Trái Đất chỉ là một hành tinh quay quanh Mặt Trời. Nhận thức này làm sụp đổ toàn bộ hệ thống niềm tin cũ. Cảm nhận về thực tại của con người thay đổi hoàn toàn.
Trong Kỷ nguyên Công nghiệp, tư duy chuyển sang các bộ phận trong xã hội. Vật liệu mới xuất hiện sau này là bê tông cốt thép và thép – tạo điều kiện cho chủ nghĩa hiện đại (modernism) phát triển. Tôn giáo dần mất vai trò trung tâm. Thay vào đó là chính phủ, công nghiệp, doanh nghiệp và các tập đoàn.

Rồi đến khoảng năm 1900, với các lý thuyết không–thời gian của Einstein, thế giới lại một lần nữa bị đảo lộn. Chúng ta nhận ra rằng không thể chỉ nhìn mọi thứ như các mảnh rời rạc, mà phải nhìn như một chỉnh thể. Vật lý lượng tử mở ra những thay đổi sâu sắc trong cách con người hiểu về thực tại. Và từ đó, chúng ta bước vào Kỷ nguyên Thông tin, nơi lực đẩy trí tuệ chủ đạo buộc mọi ngành phải tư duy theo hệ thống và toàn diện thay vì từng phần riêng lẻ.

Vậy quay lại câu hỏi ban đầu của bạn “một cuốn sách tốt là gì?” Chính vì vậy, tôi luôn giới thiệu The Third Wave.
Cuốn sách này đã định hình toàn bộ cách tôi hiểu về bối cảnh hiện tại. Tôi vốn đã biết nhiều điều trong đó, nhưng nó giúp tôi xác nhận và hệ thống hóa những gì tôi cần hiểu để tiếp tục đi tiếp. Cuốn sách này không nói trực tiếp về kiến trúc. Nhưng nó giúp bạn hiểu thế giới mà kiến trúc đang tồn tại trong đó. Và với tôi, đó mới là nền tảng quan trọng nhất cho một kiến trúc sư hôm nay.

Trong bối cảnh hiện nay, sinh viên trẻ nên làm thế nào để phân biệt đâu là thông tin sai lệch và đâu là tri thức đáng tin cậy khi lựa chọn tài liệu để đọc?

“Khi bạn đọc đủ rộng, đủ sâu, và đủ lâu, bạn sẽ tự tìm thấy những nền tảng tri thức của riêng mình”

Thực ra, không ai thực sự biết câu trả lời tuyệt đối cho điều đó. Đây là một trong những vấn đề lớn nhất của xã hội ngày nay làm sao để phân biệt thông tin sai lệch với thông tin có giá trị?

Cuối cùng, mỗi người đều phải tự tìm ra câu trả lời cho chính mình.
Thông qua giáo dục tốt, con người sẽ dần hình thành tư duy phản biện khả năng đặt câu hỏi trước những gì được nói ra, những gì ta nhìn thấy, và luôn tự hỏi “vì sao mọi việc lại diễn ra như vậy?”. Khi bạn phát triển được năng lực phản biện này, bạn mới có thể bắt đầu phân biệt đâu là thông tin kém chất lượng và đâu là tri thức đáng tin.

Nếu bạn vẫn đang tìm kiếm một tài liệu duy nhất, mang tính “chuẩn mực tuyệt đối”, thì tôi nghĩ là không tồn tại. Mỗi kiến trúc sư đều khác nhau. Mỗi sinh viên đều khác nhau. Họ có mối quan tâm khác nhau, chịu ảnh hưởng khác nhau, tùy thuộc vào nơi họ lớn lên, hoàn cảnh gia đình, và những trải nghiệm sống của họ.

Vì vậy, không có một tài liệu định danh duy nhất, đặc biệt là trong lĩnh vực kiến trúc. Lời khuyên của tôi rất đơn giản hãy đọc càng nhiều càng tốt. Hãy đọc về Frank Gehry. Hãy đọc về Zaha Hadid. Hãy theo dõi ArchDaily mỗi ngày. Hãy đọc về những gì đang diễn ra trong thế giới kiến trúc đương đại. Đôi khi, bạn sẽ bắt gặp những bài viết rất hay về các kiến trúc sư Việt Nam.

Vài năm trước tôi không nhớ rõ là Dezeen hay Architizer có một danh sách 20 nữ kiến trúc sư có ảnh hưởng nhất thế giới. Lê Anh Ni (Le Anni) của KIENTRUC O Architects là một trong số đó. Với tôi, điều quan trọng nhất là đọc một cách rộng mở. Rồi theo thời gian, bạn sẽ nhận ra rằng có một số tài liệu mà bạn cứ quay lại đọc đi đọc lại – những tài liệu dần định hình nên cảm quan kiến trúc của chính bạn.
Ở thời điểm này, tôi đã khá xa rời thực hành và thị trường kiến trúc, nên tôi không thể nói chính xác tài liệu nào sẽ là “then chốt” đối với thế hệ trẻ hôm nay. Nhưng tôi tin rằng khi bạn đọc đủ rộng, đủ sâu, và đủ lâu, bạn sẽ tự tìm thấy những nền tảng tri thức của riêng mình.

Vậy ông kỳ vọng điều gì từ những độc giả sẽ đọc cuốn sách của mình?

Tôi nhìn hai cuốn sách này theo hai cách rất khác nhau. Với cuốn sách về kiến trúc hiện đại (modernist architecture), đối tượng độc giả chính của tôi là sinh viên Việt Nam. Tôi muốn các bạn hiểu được giá trị của di sản kiến trúc hiện đại – những công trình đáng được bảo tồn và từ sự hiểu biết đó, các bạn có thể mang câu chuyện ấy trở lại với cha mẹ, gia đình và xã hội xung quanh mình.

Khi cuốn sách được xuất bản tại Hà Nội, nó được in bằng tiếng Anh. Thực ra, tôi rất mong nó được xuất bản bằng tiếng Việt. Tuy vậy, nhiều sinh viên vẫn tìm mua, đọc nó và giúp lan tỏa thông điệp mà tôi muốn gửi gắm.

Tôi đã thực hiện rất nhiều buổi thuyết trình, không chỉ để nói về cuốn sách, mà còn để nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của kiến trúc hiện đại không chỉ tại Việt Nam, mà trên phạm vi toàn cầu. Một mục tiêu khác của tôi là đưa cuốn sách này vào các thư viện kiến trúc trên thế giới, và điều đó đang thực sự diễn ra.

Thông điệp về loại hình kiến trúc này một trong những dòng kiến trúc xuất sắc nhất thế giới đang dần được lắng nghe.

Với cuốn sách về kiến trúc chỉnh thể (holistic architecture), tôi cũng kỳ vọng điều tương tự. Càng sớm được dịch sang tiếng Việt thì càng tốt. Trong thời gian chờ đợi, cuốn sách sẽ được xuất bản bằng tiếng Anh và phát hành quốc tế.

Một nhóm độc giả mà tôi đặc biệt muốn tiếp cận là các nhà sử học kiến trúc những người mà theo tôi, vẫn chưa thực sự hiểu điều gì đang diễn ra ở đây. Họ quá tập trung vào chi tiết và vì thế đánh mất bức tranh toàn cảnh. Tôi thấy điều này ngay cả trong các công trình nghiên cứu học thuật.

Mỗi tuần, tôi đọc rất nhiều bài báo khoa học từ châu Âu và Mỹ, và phần lớn các học giả vẫn chưa “nắm bắt được” điều cốt lõi. Họ chưa thấu hiểu nó. Vì vậy, tôi muốn đưa những ý tưởng này ra thế giới không phải để tranh luận cho thắng, mà để mở rộng cách chúng ta hiểu kiến trúc trong thời đại hiện nay.

Thông qua những lớp học ông từng giảng dạy, theo ông, sinh viên cần những kỹ năng và yêu cầu gì để có thể làm việc trong môi trường quốc tế trong tương lai?

Trước hết, mục tiêu cốt lõi của các lớp seminar mà tôi giảng dạy là giúp sinh viên làm quen và sử dụng thành thạo ngôn ngữ cũng như hệ thuật ngữ của kiến trúc, quy hoạch và thiết kế quốc tế.

Phần lớn sinh viên kiến trúc tại TP. Hồ Chí Minh, sớm hay muộn, đều sẽ tham gia vào các dự án mang tính quốc tế. Các bạn có thể làm việc tại các văn phòng Việt Nam hợp tác với kiến trúc sư nước ngoài, nơi mà kiến trúc sư Việt Nam thường đóng vai trò rất quan trọng trong việc triển khai kỹ thuật, cấu tạo, hồ sơ thiết kế và thi công.

Đến một thời điểm nhất định, các bạn sẽ phải làm việc hoàn toàn bằng tiếng Anh. Một số sinh viên có thể du học tại châu Âu hoặc Mỹ – dù hiện tại tôi không khuyến khích Mỹ hoặc làm việc cho các công ty kiến trúc quốc tế, chẳng hạn như tại Singapore hoặc các trung tâm khác trong khu vực.

Khả năng này là rất cao, bởi Việt Nam hiện nay là một trung tâm phát triển mạnh, một trong những quốc gia tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Các dự án lớn đang đổ về đây, và ngày càng ít được triển khai tại Mỹ như trước kia. Bên cạnh ngôn ngữ, kỹ năng thuyết trình là yếu tố then chốt. Sinh viên được thuyết trình rất nhiều trong trường đại học, nhưng thuyết trình trước giới chuyên môn và khách hàng lại là một câu chuyện khác – với những nguyên tắc, sắc thái và kỹ thuật riêng mà hiếm khi được giảng dạy bài bản.

Thông thường, sinh viên học thông qua trải nghiệm thực tế, và điều đó rất quý. Tuy nhiên, trong các lớp của tôi, tôi cố gắng chỉ ra những kỹ thuật cụ thể những chi tiết nhỏ nhưng có thể cải thiện đáng kể chất lượng bài thuyết trình.
Vì vậy, trải nghiệm thuyết trình chiếm một phần rất quan trọng trong lớp học. Điều tôi mong muốn nhất là khi rời lớp, sinh viên sẽ tự tin hơn khi thuyết trình, nâng cao khả năng diễn đạt ý tưởng bằng tiếng Anh và vững vàng hơn khi trình bày, giải thích và bảo vệ quan điểm của mình trước giảng viên cũng như giới chuyên môn.