Đừng nghĩ mình nhỏ bé, kiến trúc hiện đại miền nam Việt Nam đủ để người Việt tự hào
Bước đi trên những con phố của Sài Gòn, người ta sớm nhận ra rằng kiến trúc hiện đại miền Nam Việt Nam chưa bao giờ tách biệt khỏi thành phố này. Được hình thành từ điều kiện khí hậu nhiệt đới, tư duy vật liệu thông minh, và một sự tiếp nhận hiện đại chủ động nhưng có chọn lọc, nền kiến trúc này thể hiện một mức độ tự tin nghề nghiệp đủ để tự nói lên giá trị của chính nó. Đây không phải là ngôn ngữ vay mượn, cũng không phải phiên bản nhạt nhoà của các trào lưu toàn cầu, mà là một hệ thống các kiến trúc được tạo nên bởi những kiến trúc sư Việt Nam có năng lực, thấu hiểu sâu sắc bối cảnh bản địa và phản hồi lại bối cảnh ấy bằng tư duy thiết kế sâu sắc và bản lĩnh nghề nghiệp.
Trong cuộc trò chuyện với ông Mel Schenck kiến trúc sư người Mỹ đã dành nhiều thập kỷ quan sát, nghiên cứu và sống cùng tiến trình phát triển kiến trúc Việt Nam điều này trở nên không thể phủ nhận Kiến trúc sư Việt Nam có năng lực cao, và kiến trúc hiện đại miền Nam là một di sản xứng đáng được tự hào không cần so sánh, cũng không cần biện minh.
Để giới thiệu về mình ông sẽ nói điều gì?
Để xem nào, tôi là người Mỹ. Tôi đến từ bang Montana đó là một nơi mà phần lớn mọi người thậm chí không biết nó nằm ở đâu. Montana ở sát biên giới Canada, phía đông dãy Rocky Mountains. Dãy núi ấy chạy xuyên qua bang, nhưng phần lớn lãnh thổ còn lại là thảo nguyên trải dài đất nông nghiệp, mỏ dầu, những khoảng không gian rộng lớn và tĩnh lặng. Đó là nơi tôi lớn lên.
Tôi tốt nghiệp Cử nhân Kiến trúc tại Đại học Bang Montana vào năm 1970 đúng vào thời điểm cuộc chiến mà các bạn gọi là Chiến tranh Mỹ vẫn đang diễn ra. Khi đó, chính phủ Mỹ áp dụng chế độ bốc thăm nghĩa vụ quân sự, bởi họ không còn đủ binh lính. Mỗi ngày trong năm được gán cho một con số tổng cộng 365 số và số của tôi khá thấp. Điều đó đồng nghĩa với khả năng bị gọi nhập ngũ là rất cao.
Tôi vừa mới rời khỏi trường kiến trúc, và tôi nghĩ “Tôi không biết gì về súng ống, nhưng tôi hiểu về xây dựng”. Tôi cũng biết rằng Mỹ khi ấy đang triển khai một chương trình xây dựng quy mô lớn tại Việt Nam. Vì thế, tôi nộp đơn vào Hải quân, xin trở thành sĩ quan chuyên trách về xây dựng. Tôi được chấp nhận. Thay vì bước vào lục quân, tôi trở thành một sĩ quan hải quân.
Tôi biết mình sẽ làm công việc có liên quan đến kiến trúc chủ yếu là xây dựng. Tôi đến Việt Nam trong một năm, từ 1971 đến 1972, sống tại Sài Gòn, nhưng các công trường của tôi thì trải dài từ Đà Nẵng đến Hội An. Hãy thử tưởng tượng Hội An của năm 1972. Khi ấy, tôi hoàn toàn không biết gì về Hội An. Chúng tôi xây nhà ở cho lực lượng Hải quân Việt Nam ngay trên bãi biển nơi mà ngày nay đã trở thành một khu nghỉ dưỡng năm sao.
Sau đó, tôi tiếp tục di chuyển dọc đất nước, giữa Phan Thiết và Vũng Tàu, với một dự án tại thị trấn Hàm Tân nơi mà tôi nghĩ bây giờ gọi là La Gi. Tôi cũng thực hiện nhiều dự án tại khu vực ngày nay là tỉnh Đồng Nai, rồi ngược lên Bình Long (tên gọi thời bấy giờ), cùng một vài công trình khác tại Vĩnh Long.
Cứ như vậy, tôi đi gần như khắp miền Nam Việt Nam. Tôi di chuyển liên tục, chứng kiến nhiều vùng đất khác nhau. Và thật may mắn, trong suốt quãng thời gian ấy, tôi chưa bao giờ trực tiếp nhìn thấy chiến tranh. Tôi có những dự án tốt. Tôi quản lý tổng cộng 21 hợp đồng xây dựng, tất cả đều do các nhà thầu Việt Nam thực hiện trên khắp cả nước.
Tôi không tham gia vào chương trình xây dựng khổng lồ của Mỹ, bởi khi tôi đến, chương trình đó đã bước vào giai đoạn kết thúc và được giao cho các sĩ quan khác phụ trách. Công việc của tôi tập trung hoàn toàn vào những dự án xây dựng dành cho người Việt.

Khi ông lần đầu đến Việt Nam, điều gì ở Việt Nam đã khơi dậy trong ông niềm thôi thúc khám phá kiến trúc? Điều gì khiến nó trở nên đặc biệt?
Ngay từ ngày đầu tiên trên quãng đường từ sân bay về trụ sở tại đường Hai Bà Trưng tôi đã có hai phản ứng rất rõ ràng, chúng gần như xảy ra đồng thời.
Phản ứng thứ nhất là sự kinh ngạc trước mật độ kiến trúc hiện đại xuất hiện trong đô thị. Chúng tôi đi dọc theo con đường ngày nay là Phan Đình Phùng, gần giao lộ Nguyễn Kiệm với Phan Đăng Lưu và nối với đường Hoàng Văn Thụ. Từ đó trở đi, trước mắt tôi là một chuỗi dài những dãy nhà phố mang ngôn ngữ hiện đại, liên tục và dày đặc đến mức khó tin. Tôi thực sự không thể tin vào mắt mình. Bởi lẽ, tôi vừa mới tốt nghiệp trường kiến trúc tại Mỹ. Ở Mỹ, kiến trúc hiện đại không hề phổ biến. Dĩ nhiên có những công trình nổi tiếng của Frank Lloyd Wright và một số kiến trúc sư lớn khác, nhưng không ở đâu có số lượng áp đảo như những gì tôi nhìn thấy tại đây.

Nơi chúng tôi ở lúc đó nằm trên con đường nay là Nguyễn Trãi, gần khu Cống Quỳnh. Một lần nữa, khi tôi đi bộ dọc theo các tuyến Nguyễn Trãi và Lê Thị Riêng, cảm giác ấy lại lặp lại gần như 100% công trình đều mang tinh thần hiện đại. Tôi hoàn toàn bị choáng ngợp. Tôi không thể hiểu bằng cách nào điều này lại xảy ra.
Điều đó chỉ có thể có một lời giải thích người dân nơi đây đã thực sự đón nhận chủ nghĩa hiện đại. Họ thích nó, họ sống cùng nó. Trong khi đó, ở châu Âu và nước Mỹ, phần lớn công chúng không mấy quan tâm đến kiến trúc hiện đại, thậm chí còn không thiện cảm với nó. Chính sự khác biệt ấy đã khiến tôi sửng sốt.
Phản ứng thứ hai liên quan đến quy hoạch đô thị và mật độ dân cư. Tôi lớn lên tại Montana, trong một thị trấn nhỏ chỉ khoảng ba nghìn người. Thị trấn gần nhất cách đó tới bốn mươi cây số. Cả bang khi ấy có rất ít dân cư. Khi tôi đến Việt Nam, và vào thời điểm tôi rời đi, Sài Gòn đã có khoảng bốn triệu người. Lần đầu tiên trong đời, tôi thực sự sống trong một đô thị lớn, và tôi yêu điều đó. Tôi yêu mật độ, yêu cảm giác được ở giữa rất nhiều con người.
Giữa hai trải nghiệm ấy sự choáng ngợp về kiến trúc hiện đại và cảm xúc mạnh mẽ trước đời sống đô thị đông đúc bao trùm lấy tôi, đó là một năm tuyệt vời đối với tôi. Và trong suốt thời gian đó, tôi cũng học được rất nhiều về xây dựng.
Ông có nhắc đến khái niệm holistic architecture trong bối cảnh kiến trúc Việt Nam. Ông có thể giải thích rõ hơn về điều này không?
Khoảng mười hai năm trước, bạn hẳn đã biết đến văn phòng kiến trúc Tropical Space. Họ thiết kế một ngôi nhà tại Đà Nẵng mang tên Termitary House. Nếu còn nhớ hình ảnh công trình đó, bạn sẽ thấy nó gần như hoàn toàn được xây dựng bằng gạch đỏ, với nhiều khoảng không gian mở và vô số khe thông gió nhỏ. Ý tưởng cốt lõi của dự án xuất phát từ cách loài mối có thể điều tiết môi trường sống của chúng trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt như ở Đà Nẵng nơi mùa hè rất nóng và mùa đông lại mát hơn.
Loài mối làm điều đó bằng cách tạo ra tổ hai lớp tường. Khi quan sát Termitary House, ta thấy công trình cũng được cấu tạo từ hai lớp tường, cách nhau khoảng một đến hai mét. Hệ thống các lỗ thông gió phân bố khắp công trình giúp điều hòa vi khí hậu bên trong, đến mức không cần sử dụng điều hòa không khí.

Cách tiếp cận này được gọi là biomimicry (mô phỏng sinh học) tức là quan sát các hệ thống sinh học, trong trường hợp này là mối, và chuyển hóa nguyên lý vận hành của chúng thành giải pháp kiến trúc. Nhưng câu chuyện không dừng lại ở đó.
Bởi vì toàn bộ công trình được làm từ một vật liệu duy nhất gạch đỏ, khi nhìn vào, bạn không còn nhận ra các bộ phận riêng lẻ. Không có cửa sổ lộ diện, không có các chi tiết bị tách rời. Dĩ nhiên, vẫn có cửa ra vào, nhưng thứ hiện lên trước mắt bạn là một tổng thể thống nhất. Một vật liệu chiếm ưu thế, một hình thái trọn vẹn.

Đó chính là Kiến trúc Chỉnh thể (holistic architecture)
Ngược lại, kiến trúc hiện đại tập trung vào các thành phần cấu thành cụ thể là việc biểu đạt các bộ phận và tổ hợp chúng thành một bố cục hài hòa. Kiến trúc hiện đại Việt Nam chính là một sự tổ hợp của các thành phần đó, một (định nghĩa cho tiếng nói) hệ ngôn ngữ của các thành tố được định hình và phát triển bởi chính các kiến trúc sư Việt Nam.
Kiến trúc chỉnh thể thì khác. Ở đó, Bạn thiết kế nó như một thực thể thống nhất, và nó hiển hiện như một khối toàn vẹn ngay từ khởi điểm, chứ không phải là sự cộng gộp của các thành phần. Tropical Space là những người khởi đầu cho xu hướng này. Khi theo dõi ArchDaily hằng ngày, tôi cũng nhận thấy thêm hai hoặc ba công trình khác mang tinh thần tương tự. Đồng thời, tôi bắt đầu đọc được những bình luận của giới chuyên môn quốc tế về làn sóng kiến trúc mới tại Việt Nam, và tôi nhận ra rằng một điều gì đó khác biệt đang diễn ra.
Những đại dự án như bảo tàng hay nhà hát của Frank Gehry hay Zaha Hadid chính là chuẩn mực của kiến trúc chỉnh thể, mà tiêu biểu nhất là Zaha Hadid. Hãy chiêm ngưỡng nhà hát của bà tại Azerbaijan đó là một cấu trúc liền mạch (seamless) tuyệt đối. Bạn không thể bóc tách hay phân định từng bộ phận riêng lẻ. Ngay cả mặt đất cũng hòa quyện thành một phần không thể tách rời của tổng thể.
Tuy nhiên, các star architects hiếm khi thiết kế nhà ở hay trường học quy mô nhỏ. Chính những văn phòng như Tropical Space hay KIENTRUC O Architects đã phát triển kiến trúc chỉnh thể ở quy mô nhỏ và vừa. Khi tôi trao đổi với họ, bản thân họ cũng không hề hay biết rằng mình đang thực hành thứ mà tôi gọi là “kiến trúc chỉnh thể”.
Nhưng bằng trực giác nghề nghiệp, họ đã nắm bắt được xung lực tri thức của thời đại trong kỷ nguyên thông tin. Chủ nghĩa hiện đại vốn là hệ ngôn ngữ kiến trúc của kỷ nguyên công nghiệp một thời đại về mặt cơ bản đã lùi xa. Trong kỷ nguyên thông tin, các nhà khoa học, nghệ sĩ và kiến trúc sư đang dần thay đổi góc nhìn họ nhìn nhận mọi sự vật như những chỉnh thể thay vì chỉ là sự lắp ghép của các mảnh rời rạc.
Từ góc nhìn của ông, khi đặt song song hai khái niệm kiến trúc chỉnh thể và kiến trúc hiện đại trong bối cảnh Việt Nam, liệu hai cuốn sách của ông có phản ánh tư tưởng đương đại không? Và mục đích của cuốn sách tiếp theo là gì?
“Đó là một chủ đề rất lớn có lẽ quá lớn. Nhưng tôi vẫn sẽ làm.”
Mục đích của cuốn sách tiếp theo của tôi là giới thiệu một cách rõ ràng với thế giới về kiến trúc chỉnh thể (holistic architecture), bởi cho đến nay, phần lớn các sử gia kiến trúc trên thế giới vẫn chưa thực sự nhận ra sự tồn tại của nó.
Họ vẫn tiếp tục gọi các công trình của Frank Gehry. Họ liên tục gọi các công trình của Frank Gehry nói riêng, là thuộc chủ nghĩa giải tỏa kết cấu (deconstructivist), nhưng thực tế không phải vậy. Chủ nghĩa giải tỏa kết cấu đơn thuần là một kiểu tổ hợp các thành phần khác; nó vẫn thuộc về chủ nghĩa hiện đại.

Nhiều người xem kiến trúc của Zaha Hadid như một cấp độ cao hơn của kiến trúc hiện đại, nhưng họ không thể thoát ra khỏi hệ tư duy của Kỷ nguyên Công nghiệp. Chính sau khi hoàn thành cuốn sách về kiến trúc hiện đại được xuất bản vào năm 2020 – tôi mới bắt đầu nghiên cứu nghiêm túc về kiến trúc chỉnh thể.
Khi đó, tôi khoảng 75 tuổi. Giờ tôi đã 80. Trong quãng thời gian ấy, những ký ức từ thời thơ ấu, những năm tháng đại học và cả cuộc đời hành nghề của tôi bất ngờ ùa về. Sau này tôi mới biết, đó là hiện tượng khá phổ biến ở người lớn tuổi ký ức không cần gọi, nó tự đến. Tôi thấy điều đó rất thú vị, và quyết định ghi chép lại tất cả.
Tôi có ba đứa cháu ở Mỹ mà tôi hầu như không bao giờ được gặp. Chúng không thực sự biết tôi là ai. Vì thế, tôi quyết định biến những ký ức đó thành một cuốn hồi ký một bản tự truyện. Bản thảo ban đầu dài khoảng 600–700 trang, quá nhiều, nên tôi biên tập lại còn khoảng 500 trang.
Giờ đây, các cháu của tôi đã có thứ để đọc vào một ngày nào đó, khi chúng đủ lớn, để hiểu về người ông vắng mặt của mình là người như thế nào. Việc viết cuốn sách đã mất vài năm. Sau khi viết xong, tôi phải tự thiết kế và dàn trang cuốn sách, sau đó gửi nó đến nhà in. Tôi sử dụng dịch vụ in theo yêu cầu (print-on-demand), vì vậy tôi không phải in và lưu kho hàng ngàn bản sao.
Khi cuốn hồi ký hoàn tất, tôi quay trở lại với kiến trúc chỉnh thể (holistic architecture). Trong vài tháng gần đây, tôi đang tái cấu trúc lại toàn bộ suy nghĩ của mình về chủ đề này. Trong khi đó, Việt Nam đã thay đổi rất nhiều. Vì làm việc tại nhà, tôi không còn thường xuyên đi vào trung tâm thành phố hay lang thang khắp đô thị như trước nữa. Mười hay mười lăm năm trước, tôi đi bộ khắp Sài Gòn và hiểu thành phố này rất rõ. Tôi đã sống ở đây 20 năm, nhưng cũng phải thừa nhận rằng mình đã mất kết nối với một số chuyển biến mới. Vì thế, tôi bắt đầu ra ngoài nhiều hơn, quan sát lại, để xem điều gì đang thực sự diễn ra.
Tôi vẫn theo dõi kiến trúc Việt Nam thông qua ArchDaily, Dezeen và các nền tảng khác. Rất nhiều thứ đã thay đổi không chỉ ở Việt Nam mà trên chính thế giới. Toàn cầu hóa đã để lại dấu ấn mạnh mẽ. Phần lớn kiến trúc được xây dựng từ những năm 1980 đến nay trở nên tối giản hơn, tiệm cận các xu hướng toàn cầu. Đáng tiếc là, nhiều tòa nhà cao tầng mới lại theo đuổi Phong cách Quốc tế (International Style) nhạt nhòa và buồn tẻ.
Tuy nhiên, vẫn có những điều rất thú vị đang diễn ra. Tôi cần phải bắt kịp, nhận diện những dự án đó và sau đó phân tích chúng. Trong cuốn sách mới, tôi cũng sẽ giải thích tại sao chúng ta đã bước vào Kỷ nguyên Thông tin và tại sao tính chỉnh thể (holism) đã trở nên quan trọng. Đó là một chủ đề rất lớn, gần như quá lớn, nhưng tôi vẫn sẽ thực hiện nó.
Người ta thường nói ai cũng cần có mục tiêu sống. Vậy mục tiêu sống của ông là gì? Ông tìm ra nó từ khi nào? Và ông có theo đuổi nó cho đến tận hôm nay không?
Ngay từ thời trung học thực ra là từ ngày tôi quyết định mình muốn trở thành kiến trúc sư, khi mới 10 tuổi tôi đã luôn suy nghĩ về mục tiêu. Tôi lớn lên trong một thị trấn rất nhỏ, và thật lòng mà nói, tôi không hề biết kiến trúc sư thực sự làm gì. Tôi chỉ biết một điều rất đơn giản là họ xây dựng những thứ gì đó.
Thư viện ở thị trấn của tôi không có lấy một cuốn sách nào về kiến trúc. Nhưng mẹ tôi có đăng ký nhiều tạp chí hàng tuần, trong đó có Better Homes and Gardens. Ít nhất, tôi có thể nhìn thấy những ngôi nhà thú vị, và trong số đó có một vài công trình mang tinh thần hiện đại.
Tôi nhìn những hình ảnh đó và bắt đầu suy nghĩ. Tôi tự nói với mình “Được rồi, mình sẽ thiết kế một trạm cứu hỏa.” Tôi vẽ nguệch ngoạc, rồi tự hỏi trong đầu “Một trạm cứu hỏa cần những gì? Có cần chỗ đậu xe cho xe cứu hỏa không?” Sau đó tôi lại nghĩ tiếp “Vậy mình có thể thiết kế một tòa nhà cao tầng không?”
Thế là tôi vẽ một tòa nhà cao tầng chỉ là mặt ngoài, nhưng với tôi lúc đó, thế là đủ. Những việc rất nhỏ như vậy giúp tôi rất nhiều. Thông qua quá trình đó, tôi dần hình thành mục tiêu. Dĩ nhiên, mục tiêu đầu tiên của tôi là tốt nghiệp với bằng Cử nhân Kiến trúc. Ở lại trường. Hoàn thành việc học. Bạn cần một mục tiêu đủ mạnh, bởi vì tôi luôn luôn muốn trở thành kiến trúc sư.
Sau đó, các mục tiêu tiếp theo dần xuất hiện tôi muốn trở thành thành viên của Hiệp hội Kiến trúc sư Hoa Kỳ (AIA). Tôi muốn trở thành kiến trúc sư được cấp chứng chỉ hành nghề không chỉ là một người tốt nghiệp, mà là một kiến trúc sư thực thụ. Rồi tôi còn muốn có văn phòng riêng, lúc đó tôi nghĩ văn phòng ấy sẽ ở Montana. Thôi, bỏ qua chuyện đó đi. Nếu phải nói gọn lại, mục tiêu sống của tôi rất đơn giản đó chính trở thành một kiến trúc sư. Chỉ vậy thôi. Và đến bây giờ, nó vẫn là như thế.
Dĩ nhiên, trong kiến trúc có rất nhiều thứ đi kèm, và mục tiêu thì thay đổi theo thời gian. Ở thời điểm này, mục tiêu của tôi là hoàn thành và xuất bản cuốn sách về kiến trúc mà tôi đang viết. Nhưng suy cho cùng, tất cả vẫn xoay quanh một điều duy nhất là kiến trúc.
Nguồn ảnh: Saigoneer
Nhiếp ảnh: Phạm Vinh, Hiroyuki Oki
